Dự thảo đề xuất mức hỗ trợ áp dụng cho 3 nhóm đối tượng học sinh đặc biệt. Trong đó, trẻ học mầm non, học sinh phổ thông, học viên học tại cơ sở giáo dục thường xuyên theo chương trình giáo dục phổ thông mồ côi cả cha và mẹ; mồ côi cha hoặc mẹ và bị người còn lại bỏ rơi, sống với ông, bà hoặc người nuôi dưỡng nhưng hiện những người này đều đã tử vong.
Trẻ học mầm non, học sinh phổ thông, học viên học tại cơ sở giáo dục thường xuyên theo chương trình giáo dục phổ thông là người khuyết tật.
Trẻ mầm non, học sinh phổ thông, học viên học tại cơ sở giáo dục thường xuyên theo chương trình giáo dục phổ thông có cha hoặc mẹ, hoặc cả cha và mẹ, ông bà (trường hợp ở với ông bà) thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo theo chuẩn nghèo địa phương.
Dự thảo đề xuất 2 nhóm hỗ trợ. Nhóm 1 là trẻ em, học sinh, học viên học tại các cơ sở giáo dục trên địa bàn phường. Nhóm 2 là trẻ em, học sinh, học viên học tại các cơ sở giáo dục trên địa bàn xã, đặc khu.
Mức hỗ trợ gồm tiền ăn trưa, tiền tổ chức dịch vụ phục vụ và hỗ trợ hoạt động giáo dục, tiền tổ chức các nội dung theo chương trình ngoài giờ học chính khóa, tiền đồng phục. Cụ thể, bữa ăn trưa theo mức thực tế phát sinh tại cơ sở giáo dục, tối đa 40.000 đồng/học sinh/ngày.
Hỗ trợ tiền tổ chức dịch vụ phục vụ, hoạt động giáo dục gồm nhiều khoản. Trong đó, có tổ chức, phục vụ, quản lý và vệ sinh bán trú; ăn sáng; chăm sóc, nuôi dưỡng ngoài giờ (trông giữ trước và sau giờ học chính khóa, không bao gồm tiền ăn).
Cùng với đó là chăm sóc và nuôi dưỡng ngoài giờ (trông giữ trong ngày nghỉ, không bao gồm các ngày lễ, Tết và không bao gồm tiền ăn), sử dụng máy lạnh của lớp học có sẵn máy lạnh, tiện ích ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số.
Mức hỗ trợ theo thực tế phát sinh tại cơ sở giáo dục nhưng không quá mức tối đa. Cụ thể, hỗ trợ tiền học ngoại ngữ với người nước ngoài, học kỹ năng sống, học bơi và kỹ năng phòng chống đuối nước... với mức trung bình trên toàn thành phố.
Tiền đồng phục 300.000 đồng/năm học (mầm non), 400.000 đồng/năm học (tiểu học), 450.000 đồng/năm học (THCS) và 500.000 đồng/năm học (THPT).
Riêng năm học 2025-2026 hỗ trợ tiền đồng phục bằng 50% mức hỗ trợ cả năm học, áp dụng từ tháng 1-2026 tương ứng từ học kỳ 2.
Nghị quyết dự kiến được áp dụng từ ngày 1-1-2026. Tiền học bơi và kỹ năng phòng chống đuối nước sẽ hỗ trợ 2 tháng/năm học, tiền bữa ăn trưa theo số ngày thực tế trong khung thời gian năm học quy định. Các nội dung hỗ trợ theo thời gian học thực tế của học sinh tại cơ sở giáo dục và mỗi năm không quá 9 tháng.
Với các mức hỗ trợ dự kiến theo nghị quyết, trung bình mỗi em được hỗ trợ tối đa khoảng 2,1 triệu đồng/tháng.
Trong khi mức thu nhập bình quân/người hằng tháng của hộ nghèo tại thành phố hiện dưới 3 triệu đồng, hộ cận nghèo từ 3-3,8 triệu đồng.
Kinh phí thực hiện từ ngân sách thành phố, dự kiến chi 588 tỷ đồng/năm học. Riêng năm học 2025-2026, mức chi tương ứng 299 tỷ đồng cho học kỳ 2.
Dự thảo được đưa ra lấy ý kiến từ nay đến hết ngày 10-12. Sau khi hoàn tất việc lấy ý kiến sẽ được trình UBND TP. Hồ Chí Minh để HĐND TP. Hồ Chí Minh thông qua tại kỳ họp tháng 12-2025.
Tính từ đầu năm học 2025-2026, số học sinh có hoàn cảnh đặc biệt trên toàn thành phố là 31.727 em. Trong đó, hộ nghèo là 5.435 em, hộ cận nghèo là 6.894 em, khuyết tật là 9.879 em.
Số trẻ mồ côi cả cha và mẹ là 848 em, mồ côi cha hoặc mẹ và bị người còn lại bỏ rơi sống với ông bà hoặc người nuôi dưỡng nhưng hiện những người này đều đã tử vong là 8.671 em.
Nghị quyết được ban hành để đảm bảo các điều kiện thiết yếu cho trẻ em, học sinh có hoàn cảnh đặc biệt đến trường, tạo môi trường giáo dục công bằng, toàn diện, cũng là mục tiêu phát triển bền vững của thành phố, đảm bảo an sinh xã hội.









Bình luận
Đăng nhập hoặc Tạo tài khoản để tham gia bình luận
Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu